Một bài được viết từ trước, vốn định nằm trong chuỗi bảy tám bài nhưng lười viết, những bài sắp tới nếu viết sẽ xuất bản ở đây đầu tiên.
Hôm nay đã là ngày hai mươi lăm ta, rằm tháng Giêng qua được một tuần rồi mà không khí ngày xuân vẫn còn phảng phất chưa tan. Hơn ba giờ sáng, trời quê vẫn còn cái rét căm căm. Tôi lúc này đã áo quần chỉnh tề để chuẩn bị cho chuyến hành hương hôm nay. Bầu trời đêm lác đác ánh sao lấp lánh, đúng là chỉ có ở quê thì mới có thể nhìn sao trời thế này. Tôi nghe tiếng má tôi ở phía sau nhà:
– Trà đá đường tôi bỏ cái ca rồi đó. Lên xe xách theo mà uống. Đi nhớ mua bánh pía về cho tụi con Trinh, thằng Quân.
Tôi nghe tiếng cha tôi ừ hử vài câu. Sau đó ông bước lên nhà trên nhìn tôi rồi nói:
– Chắc tao với mày ra đó chờ được rồi. Nãy cậu Tư mày mới điện, nó nói xe chạy tới cầu Cây Da rồi.
Tôi gật đầu và phụ xách đồ với cha. Trời vẫn tối ôm, tôi vuốt ve con Quện một chút rồi bước đi. Trên tay là cái đèn pin, hai cha con tôi bước đi qua những con đường đất với những tán cây còn ướt đẫm sương khuya. Không gian thật tĩnh lặng khi chỉ có tiếng bước chân và côn trùng kêu. Cũng lâu rồi, tôi mới có dịp đi ra khỏi nhà sớm thế này. Lúc đi lễ Nhất mỗi sáng mùng một thì cũng chỉ cỡ hơn bốn giờ thôi. Bước ra tới đường lớn, cha con tôi đặt đồ đạc trên đường và đứng lặng yên. Tôi tiếp tục nhìn trời. Bầu trời tối om với không biết cơ man nào là sao. Tôi nhớ tới những tháng này còn nhỏ, thời mà cái đường đất từ nhà tôi ra đầu lộ còn chưa thể chạy xe máy trong đêm với hai người trên xe được. Những ngày đó, má con tôi đều đi bộ. Những hôm đó, sao trời lúc nào cũng nhiều như đêm nay. Dù nhiều điều ở xứ này đã thay đổi nhưng bầu trời thì chẳng có mấy đổi thay. Cũng phải thôi, chúng ta suy cho cùng chỉ là những kẻ thụ tạo nhỏ bé giữa tạo hoá. Đang suy nghĩ thì tôi nghe tiếng xe hơi từ xa, cha tôi nói:
– Chắc cậu Tư mày tới rồi đó.
– Dạ – Tôi đáp.
Chiếc xe bốn chổ chậm dần rồi dừng ngay chổ cha con tôi đứng. Chú Bá tài xế bước ra niềm nở nói:
– Anh Hai có đồ đạc gì để trong cốp không, để em bỏ vô cho.
– Không có – Cha tôi cười đáp – Bận về mới có chứ giờ có cái túi đựng ca trà đá đường thôi.
– Của chị Hai tôi phải không? Tôi là rành bả quá mà.
Cậu Tư Thiên cười nói rồi quay qua tôi hỏi:
– Trung về hồi nào hả con? Mạnh giỏi he.
– Dạ, con mới về hồi sáng hôm qua.
Cậu Tư gật gật đầu. Cha tôi tôi bước vào xe. Tôi ngồi ghế trước kế chú Bá để cha và cậu Tư ngồi cùng nhau. Cha tôi hỏi:
– Giờ này ra đó chắc kịp phà Đình Khao hả Bá?
– Dư sức anh ơi.
Chiếc xe bắt đầu chạy từ nhà tôi, men dần ra đường Trăm Công. Trong lúc cha tôi và cậu Tư hỏi thăm nhau ít chuyện này nọ thì tôi thả mình về những ký ức xưa. Cái chuyện đi Cha Diệp mà có xe hơi đưa đi ngay đầu lộ như hôm nay đúng là như cả một giấc mơ. Nhớ lại lúc còn nhỏ, những chuyến đi Cha Diệp của tôi và má luôn là những đêm thức sớm hoặc phải ngủ lại nhà nội ngoài Cái Mơn. Những hôm hành hương đó chúng tôi thường sẽ đi xe mười sáu chổ. Nhưng số người thường không dừng lại ở số ghế, đa phần con nít tụi tôi, những đứa còn chưa lên cấp hai sẽ phải ngồi trên đùi người lớn. Tất cả chen chúc nhau trong một chuyến hành hương…
Chuyến xe hành hương dần lăn bánh nhanh hơn trong đêm, rôm rã sau lưng tôi vẫn là câu chuyện quen thuộc về Cầu Đình Khao, một công trình mà ai đi Cha Diệp cũng sẽ đều nghĩ tới và mong mỏi. Nhưng đó vẫn là chuyện mong muốn xa xăm, còn hiện tại thì mỗi chuyến đi chúng tôi đều sẽ phải đi qua con phà này. Thật lòng thì tôi cũng không phiền hà gì chuyện phải qua bến bắc này. Biết đâu mấy năm nửa, cầu xây xong xuôi hết, bến bắc dẹp đi thì mỗi chuyến hành hương lòng tôi lại nhớ về cái thời gian ngồi chờ đợi con phà rẽ sóng cập bến thì sao? Nghĩ lại thì đôi lúc lòng tôi vẫn nhớ về cơm tấm ở bến phà Hàm Luông đó thôi… Xe ghé đến bến phà, tôi bước ra khỏi xe, tôi mua một ly cà phê sữa đá và nhìn vòng quanh. Bến phà dù sáng sớm nhưng cũng đã có kha khá xe khách xếp hàng. Trong phòng chờ cũng có lác đác mấy chiếc xe máy chở hàng, xe đạp cũng có vài chiếc của những người già. Hai bên đường hàng quán vắng đi nhiều so với ký ức ngày nhỏ của tôi. Chủ yếu các hàng quán bán cà phê, xôi, bánh mì và vài thứ lặt vặt. Không gian xung quanh có phần hiu quạnh, chỉ có tiếng sóng ì ập từ bờ sông Cổ Chiên vọng vào cùng mấy cơn gió rét đầu xuân. Cánh cổng vào, dãi phân cách, mấy cái hàng rào đều rất cũ rồi. Phà Đình Khao giờ như chiếc áo cũ kỹ đang đi dần đến ngày được cất đi. Nhưng ngày đó còn xa xăm nên áo dù sờn thì vẫn phải che chắn cho cái cơ thể mà nó đeo mang từng ngày. Nhìn ly cà phê pha máy tôi nhớ về những lần đi hành hương lúc nhỏ, lần nào cũng được uống cà phê sữa với đá đập nhuyễn bên đựng bên trong bịt thay vì là ly nhựa, mọi thứ đang đổi thay từng ngày và chỉ có đôi phần ký ức vẫn đang ở lại. Sau vài phút chờ đợi thì phà cũng tới. Chiếc xe băng băng tiến lên phà để qua bờ Vĩnh Long. Ngay khi chiếc xe lăn bánh những vòng đầu tiên trên đất Vĩnh Long thì tôi cũng thả mình vào giấc ngủ với những chuyến hành hương xưa bên những lò gạch trùng điệp bên bờ rạch Thầy Cai.
Tôi mở mắt ra và thoải mái ngáp dài một cái, sau lưng tôi vẫn là những cuộc chuyện trò râm rang cha và cậu Tư. Thấy tôi dậy, cậu Tư cười nói:
– Ngủ đã dữ hả con? – Sau đó cậu nói với cha tôi – Em là thua, lên xe mà ngồi ghế trước chắc chỉ khi nhậu xỉn mới ngủ được thôi chứ bình thường là thua, ngủ không vô giấc nổi.
– Ừ – Cha tôi đáp – Nằm ghe hồi xưa thì ngủ êm ghe ha, chứ xe cộ giờ khó vô giấc quá.
Tôi nheo mắt nhìn xe đang băng qua một cây cầu. Cha tôi nói tiếp:
– Tới cầu Rạch Nhum này là chắc gần tới Ngã Bảy rồi hả Bá?
– Dạ – Chú Bá đáp – Xíu nửa là tới rồi đó anh.
– Lẹ dữ ha anh Hai – Cậu Tư nói – Mới đây gần tới Ngã Bảy rồi, nhớ hồi xưa qua hai cái bắc Đình Khao với Cần Thơ là muốn sáng bửng rồi. Giờ mới binh minh xíu mà gần tới Ngã Bảy luôn. Chắc Bá coi thử chút chổ nào ghé được ăn sáng chút rồi đi há?
– Dạ, chút qua Ngã Bảy, theo Quản Lộ Phụng Hiệp tới gần Ngã Năm em ghé vô cái quán kia rồi mình ăn uống luôn, chổ đó bán đủ thứ cơm, phở, hủ tíu, bún bò đồ. Cỡ bốn chục ngàn một tô đầy vung luôn.
Cậu Tư gật gật đầu rồi nói:
– Tới khúc này nhớ mấy con kênh hồi xưa đi ghe ghê, kênh Xăng Cái Côn, kênh Trà Cú, kênh Xáng Ngã Năm đồ, kênh nào kênh nấy thẳng băng. Nhớ hồi xưa đi Phụng Hiệp ghê há anh hai. Anh em mình với cha Sáu Tánh chèo ghe hà rầm ở đây. Đợt này mà có ổng đi nửa thì vui. Anh em nói chuyện xưa chuyện cũ.
– Anh Sáu Tánh con bác Bảy Bầu phải không anh Tư? – Chú Bá hỏi.
– Ừ, thằng chả đó. Xưa ổng, anh Hai với tôi chơi chí thân. Ba anh em đi ghe lúa xuống miệt này suốt nè. Hồi đó anh Hai còn chưa quen chị tôi. Ba thằng chưa có vợ con gì hết. Hai anh em tôi thì đi mần kiếm sống. Thằng cha Sáu Tánh thì chú Bá chắc biết rồi, xưa bác Bảy Bầu có nhà máy chà giàu nhất xứ luôn. Thằng chả mê chơi mới đi theo anh em tôi chứ có thiếu tiền, thiếu bạc gì đâu. Thành thử hai thằng tôi dắt theo ông công tử như thằng chả đi theo. Vậy á mà vui, đủ thứ chuyện trên trời dưới đất luôn.
– Ừ – Cha tôi cất tiếng – Nhớ hồi xưa thằng Sáu Tánh ghê. Nó đi ghe mà mặc sơ mi, túi áo lúc nào cũng có chai dầu dừa với cây lược, đầu tóc lúc nào cũng bóng lưỡng, mướt rược. Đi ghe mà nó chuyên môn ngồi đằng sau mui ghe hóng gió để hai thằng tôi làm thấy mẹ luôn.
– Ừ – Cậu Tư cười lên – Mà được cái có thằng chả đi chung anh em hay được ăn ké đồ nhậu đồ. Lâu lâu thấy bánh trái gì ngon là ổng mua cho ba anh em ăn chung. Mà thằng cha Sáu Tánh có cái món kéo kèn lá ác đạn lắm. Có cái lá thôi mà ổng kéo ngọt lịm thiệt là hay. Hồi xưa ổng hay thổi mấy bài như cái gì mà “Lữ khách buồn giữa dòng sông, cô lái đò giờ đã theo chồng”. Mấy chị em mê đứt đuôi luôn.
– Mày nói làm tao nhớ con Hai Nhị. Không biết nó giờ đâu, cái quán nó đâu ở gần khúc Búng Tàu á.
– Ừ, đâu đó khúc đó á anh Hai. Mà chắc giờ dẹp rồi, hồi đó anh em mình ăn nhậu hà rầm ở đó…
Câu chuyện của hai người đàn ông từng rong rủi miền sông nước tiếp tục râm rang đủ hồi ức về bến nước này, cái kênh kia… Tôi thì nhìn ra cửa sổ, đúng như lời cậu Tư nói, con đường chúng tôi đang đi thẳng đến lạ kỳ. Một bên đường là những cánh đồng xa tít tấp mờ ảo dưới làn sương mù hoặc là khói phủ lên. Bên trái là những dải nhà cửa. Sau dãy nhà đó là một con kênh. Ắt hẳn đó là một trong những con kênh “thẳng băng” mà cậu Tư đã nói đến. Tôi nhìn đồng hồ, chỉ cỡ bảy giờ sáng, trời bên ngoài chắc vẫn còn hơi lạnh dù nắng đã chiếu xuống, bên tai tôi là tiếng động cơ của những chiếc ghe đang lướt đi trên sông. Xe chạy được một chút thì giảm dần tốc độ khi trước mặt là một hàng xe đậu dài. Chú Bá tài xế nhăn mặt lẫm bẩm:
– Kèo không thơm, kèo không thơm rồi, chắc có tai nạn gì hay sao rồi chứ khúc này đâu mà có đèn đỏ gì.
– Giờ sao Bá? – Cậu Tư hỏi.
– Chắc chờ thôi anh Tư, mà để em nhảy xuống coi đằng trước bị gì.
Chú Bá phóng tót xuống và trở lại sau vài phút.
– Kẹt dài lắm mấy anh ơi, chắc có đụng xe gì dữ lắm, chưa đi được liền đâu. Chắc xuống chơi xíu đi rồi chút mình đi.
Tôi xuống xe và bước vài bước trên mặt đường nhựa. Dù đang kẹt xe nhưng không khí vẫn tương đối trong lành. Bầu trời xanh và cao, những cánh đồng lúa bên kia vẫn chìm trong khói trắng. Thứ khói mà tôi không biết đó là khói đốt đồng hay là sương mù. Làn khói trắng nhìn vừa dày nhưng cũng vừa mỏng. Nó như một lớp mùng trắng, loại mùng kiểu cũ mà quê tôi hay dùng lúc xưa. Nếu là sương mù thì tôi tự hỏi tại sao làn khói đó chỉ phủ lên những miếng ruộng mà không tràn ra ngoài đường. Còn nếu là khói thì tại sao nó có thể lặng yên như thế, bởi khói thì sẽ luôn chuyển động. Thật quái đản! Tôi cứ nhìn ngẫn ngơ thế đến khi có một bàn tay kéo tôi về thực tại.
– Ăn bắp không? – Cậu Tư hỏi – Chút tới khúc kia người ta bán bắp nấu nhiều lắm.
– Dạ không – Tôi lắc đầu vì tôi vốn không thích ăn bắp.
– Còn anh Hai?
– Chắc tao cũng làm một trái ăn cho vui.
– Chờ chút mua cũng được anh – Chú Bá nói – Từ đây tới đó thiếu gì bắp, người ta bán đầy á.
Cậu Tư gật gù rồi nói:
– Ừ tới đó cũng được.
Sau đó cậu quay sang cha tôi rồi nói.
– Không biết giờ con Hai Nhị dạt về đâu rồi hay còn ở đây?
– Ai mà biết. Tới cái chổ quán nó bán hồi xưa anh em mình giờ có khi còn không nhớ ở đâu nửa kìa.
– Sao không nhớ được anh Hai. Ngay giữa chợ Trà Cú với Ngã Năm chứ đâu.
– Mà mày nhớ khúc nào không?
– Cái đó chắc phải đi thử mới biết.
– Giờ đường xá đổi thay hết rồi. Trừ phi nó còn đây chứ nó dạt đi rồi thì sao mà nhớ được. Thêm cái quán nó có phải ngoài lộ đâu. Quán bán bên bờ kênh Trà Cú mà.
Chú Bá quay lại nói:
– Hình như thông xe rồi, lên xe đi mấy anh ơi.
Vừa lên xe, chú Bá cười nói:
– Chuyện cái chị Hai Nhị gì đó ngó bộ hay hay à nha. Mấy anh nói hoài vậy.
– Hay chớ chú – Cha tôi nói – Mà chủ yếu dính với cha Sáu Tánh kìa. Anh em tôi biết chuyện thôi. Trưa ghé đâu đó làm nổi lẩu mắm với mấy xị rượu rồi anh em tôi kể cho.
– Dạ – Chú Bá cười – Em nói thiệt là em cũng nhiều chuyện lắm á nha.
Cả ba người đàn ông phá lên cười. Xe chạy một đoạn thì chú Bá nói:
– Tấp vô đây ăn cơm cái nha. Xe nó cũng lại kẹt tiếp rồi.
Vừa ghé vô là có một ông chú trung niên trong quán đon đã nói:
– Vô ăn cơm đi mấy anh ơi. Có hủ tíu, phở, cơm tấm đồ nè. Nước có cà phê, bò cụng đầy đủ. Giờ chạy tiếp cũng xếp hàng thôi chứ không có chạy được đâu.
– Đằng trước đụng dữ lắm hả chú? – Chú Bá hỏi.
– Dạ, em cũng chưa có ra đó coi mà nghe tụi nhỏ nó nói là đụng dữ lắm ở trên cầu Bến Long. Giờ công an người ta đang làm việc
Nhà tôi gật gù rồi vào quán ăn sáng. Sau quán là cả một ruộng lúa xanh mướt, vừa ăn tôi vừa nhìn ra cái ruộng đó. Lúc này cái làn sương mù hoặc là khói lúc sáng đã tan, ruộng xanh xa tít tấp như thể đến tận cùng chân trời. Cha tôi cười nói:
– Bây giờ đi ông cha Diệp khỏe ghê. Mới giờ này mà đã tới Ngã Năm. Còn dư luôn giờ ăn sáng nửa. Nhớ hồi trước đi toàn đem cơm, đem bánh mì theo chứ làm gì có thời giờ mà ăn sáng, uống cà phê như giờ. Mà giờ tới Ngã Năm mình chạy xuống Bạc Liêu luôn hay sao Bá?
– Dạ không anh Hai. Mình chạy tiếp theo Quản Lộ – Phụng Hiệp luôn. Giờ có đường xe lớn chạy được dọc theo cái kênh Gành Hào – Hộ Phòng. Chạy hết là ra tới Tắc Sậy liền luôn.
– À, hồi trước anh em tôi cũng có đi ghe khúc đó.
– Mấy anh chắc rành tám câu mấy con rạch, con kênh khúc này quá.
– Rành thì phải rành rồi – Cậu Tư nói – Xứ này xứ lúa mà. Tôi, anh Hai với thằng cha Sáu Tánh rong rủi không biết bao nhiêu mùa. Sau này, ổng cưới chị Hai tôi rồi cha Sáu Tánh lấy vợ cái là còn mình tôi cũng ít xuống đây. Thời ghe xuồng nghĩ lại mà nhớ ghê.
Đang nói thì cậu Tư như sực nhớ ra gì đó. Ổng nói đi ra kia một chút rồi phóng qua bên kia đường, bỏ dở luôn cả tô hủ tíu đang ăn. Cỡ hơn mười phút sau thì cậu quay lại, mang theo mấy trái bắp. Cha tôi nói:
– À, ra là đi mua bắp. Mà mua thôi mắc gì đi gấp vậy? Mà đã đi gấp vậy mà sao mất cả buổi mới về tới?
– Ừ thì em đi có chút công chuyện – Cậu Tư gãi đầu – Chút bận về đi nhậu đi rồi em kể cho nghe.
Cha tôi nhướng mày, cười cười rồi bốn người cùng lên xe đi tiếp. Trên cầu Bến Long đúng là có một vụ tai nạn. Hai xe tải đối đầu nhau nát bét cả. Xe cứ vậy chạy tiếp. Chạy được một đoạn thì xe rẻ vô một con đường nhỏ cặp bên một con rạch nhỏ, chắc đây là con kênh mà cha tôi và cậu Tư nói lúc nãy. Mới rẻ vào đó là cha tôi liền cảm thán:
– Cái đường cặp mé rạch nhỏ xíu hồi xưa xe đạp chạy còn né lên né xuống ổ gà mà giờ xe bốn bánh chạy ầm ầm luôn.
– Công nhận, lẹ thiệt, chắc giờ mình già quá rồi. Mà khúc này anh hai nhớ anh em mình có cái kèo gì không nè?
Cha tôi ra bộ ngẫm nghĩ vài giây, sau đó mắt ông chợt sáng lên và nhìn thẳng vào mặt cậu Tư, chỉ ngón tay ra và cười như chực nói ra điều gì đó. Cả hai người cười với nhau và gật gù. Cha tôi nói:
– Tao xém quên luôn cái độ đó.
– Mà chưa quên phải không anh hai?
Chú Bá liền hỏi:
– Vụ gì đó hai anh?
– Vụ này lâu rồi – Cậu Tư nói – Hồi đâu năm nào đó sau năm tám lăm, ba thằng tôi đi ghe ở con rạch này. Đêm đó, chèo ghe không, nhìn lên trời tự nhiên thấy nguyên cái sao chổi bay trên trời. Nhìn nó y hệt cây chổi chà luôn, có nguyên cái đuôi bự lắm. Ba thằng tôi đều thấy. Nhìn cái sao chổi hôm đó, nó lao cũng theo cái hướng mình đang đi nè. Xong rồi ba đứa cáp kèo nhau coi khi cái sao chổi đó rớt xuống, thằng nào lụm được thì sẽ được bao một kèo ăn tới bến ở quán Hai Nhị.
– Trời đất, sao chổi mà sao lụm được mấy cha? Nghe cứ như Lá Diêu Bông của dân nhậu vậy?
– Thì hồi đó thanh niên giỡn dai chơi vậy á mà – Cha tôi nói – Cuối cùng có thằng nào đi kiếm đâu. Mà cái độ này lâu lâu nhớ lại vẫn thấy mắc cười cái thời thanh niên đó.
Tôi cũng cười theo câu chuyện đó. Tự dưng lúc này trong đầu tôi nhớ về một bài hát cũ mà tôi vẫn hay nghe của Vũ Thành trong đó có câu này
Tay trong tay đôi lòng xao xuyến
Ta cùng theo dõi ánh sao rời ngôi buông rơi.
Ta cùng nhau ước tương lai đẹp tươi
Sống bên nhau ngàn năm
Dù đường đời muôn lối
Xe chạy một chút nửa thì cũng ra được đường lớn. Chú Bá nói:
– Sửa soạn đồ nha mọi người ơi. Nhà thờ Tắc Sậy đằng trước rồi đó.
Nhà thờ Tắc Sậy hiện ra trước mắt thật lạ lẫm với ký ức của tôi. Dù sao cũng gần hai mươi năm rồi. Trong ký ức của tôi, Tắc Sậy ngày xưa không hẳn là một cái nhà thờ mà nơi này giống một đền thờ hơn. Chỉ có một mái nhà được dựng lên chở che mộ phần của linh mục Trương Bửu Diệp. Xung quanh cũng không có hàng rào nào và mỗi lần xe đi vào đều rất hỗn loạn. Khách hành hương chúng tôi luôn bị chèo kéo dữ dội bởi những người bán hàng rong quanh khu vực này. Hôm nay trở lại thì mọi thứ khác hẳn, một thánh đường được dựng lên cao, lớn và trang nghiêm. Xung quanh họ đạo giờ đã được rào lại và có khu đậu xe quy củ. Hài cốt của cố linh mục có vẻ đã được được dời vào một khu vực mới kế khu vực cũ. Không gian của công trình này tương đối rộng rãi và khang trang, dù người hành hương khá đông nhưng không có cảm giác bị chen lấn, bí bách. Nơi yên nghỉ ngày xưa của cha Trương Bửu Diệp vẫn được giữ lại, có lẻ để lưu giữ kỷ niệm. Tôi có ghé thăm nơi đó để ôn lại hồi ức xưa cũ về những chuyến hành hương xưa. Cha tôi và cậu Tư thì đi đâu mất, có lẻ họ đi trả lễ cho những điều nguyện cầu đã được hồi đáp. Trong thời gian chờ đợi, tôi dạo một vòng thánh đường mới xây. Thánh đường ở trên cao, muốn lên phải leo lên các bậc thang. Dọc theo con đường đó là các bức tượng bằng gỗ của các vị thánh tông đồ. Không gian bên trong nhà thờ cũng rất rộng rãi và trang nghiêm. Tôi nhìn ngó một lát rồi lại bước xuống hầm nhà thờ. Nơi này các cây cột đều được khắc tên những người có ý tạ ơn. Tôi cũng không quên nhìn ra phía cổng nơi có những quán cơm. Tôi không nhớ rõ tên quán cơm mà tôi ăn khi đến đây gần hai mươi năm trước. Thời đó, người hành hương chúng tôi chỉ có thể ăn trưa ở những quán cơm này vì lý do tiết kiệm thời gian cũng như các giao kèo của nhà xe với các chủ quán. Những chuyến đi sau này thì tôi nghe nói rằng rất hiếm khi phải ăn cơm ở những quán đó, đa phần sẽ ghé chợ Hộ Phòng ăn hoặc một quán cơm quen nào đó của tài xế. Đang nhìn thì có tiếng cha tôi gọi:
– Trung, có làm gì nửa không? Không thì ra xe đi về nè.
– Dạ.
Tôi đáp lại và bước vào xe. Cha tôi hỏi chú Bá rằng biết tiệm lẩu mắm nào ngon không để anh em đi lai rai rồi kể chuyện. Chú Bá nghe nói đến kể chuyện thì khoái lắm, tôi đoán chú cũng như tôi, muốn biết câu chuyện về cái cô Hai Nhị kia. Chú nói rằng có quán ruột ở gần phía thành phố Bạc Liêu, mọi người cứ yên trí. Xe cứ thế chạy trên Quốc Lộ 1 hướng đến gần thành phố Bạc Liệu. Xe dừng ở cổng một quán lẩu mắm không tên ở bờ sông. Quán nhìn có vẻ cũ, vừa vào là đã có tiếng gọi của một bà cô trạc tuổi cha tôi:
– Chú Bá hả? Nay đi ông cha hả?
– Dạ, em đưa hai anh với thằng cu này đi cha Diệp. Nay hai ổng thèm lẩu mắm nên em tấp vô quán chị.
Bà cô chủ quán cười tươi, gật gù. Qua vài câu xã giao thì bốn người cũng ngồi quanh nồi lẩu nghi ngút khói. Nồi lẩu mắm khá đơn giản, mùi mắm thơm dịu không gắt. Hải sản cũng đơn giản với chỉ tôm và mực, đương nhiên tất cả đều tươi. Rau thì có bông súng, kèo nèo, lục bình, bông bí, bắp chuối bào. Do mới vào xuân nên thiếu đi bông điên điển. Khi lẩu sôi, lần lượt thịt và rau được cho vào nồi làm bật lên hương mắm thơm dịu. Quả thật lẩu mắm đây ngon hết sẩy. Tôi không ngờ ở một quán vắng vẻ, cũ kỹ thế này lại nấu được một nồi lẩu ngon như thế này. Sau bốn năm lượt rượu thì cha tôi nhìn cậu Tư và lên tiếng:
– Tao hay mày nói trước?
– Chắc để anh Hai nói trước đi, có một chuyện thôi chứ có gì đâu, sót đâu thì em kể thêm vô.
Cha tôi gật gật đầu, nói làm ly nửa rồi kể cho ngọt. Ông bắt đầu:
– Chuyện thì cũng không có gì. Giống như lúc sáng anh em tôi có nói với chú Bá đó. Xứ này xứ lúa nên chuyện anh em tôi đi ghe hà rầm ở đây cũng không lạ lùng gì. Mà hồi xưa, tôi thì chơi chí thân với thằng Sáu Tánh, cái tánh nó thì mê chơi, mê đi, lãng tử lắm. Ông già nó, ông Bảy á, muốn nó nối nghiệp mà nó có chịu đâu, đẩy hết cho con chị nó xong rồi phóng theo anh em tôi đi ghe. Trong mấy chuyến đầu đi, có đợt anh em tôi neo ghe ở khúc nào gần kênh Trà Cú lúc sáng đó. Bửa đó đang chiều, ba thằng nằm chơi trên ghe, tôi kêu thằng Sáu nó thổi một bài nghe chơi bằng kèn lá. Xong rồi nó cất giọng hát bài Còn Thương Rau Đắng Mọc Sau Hè. Nó khoái bài đó lắm tại bác Bảy gái thương nó với con Ba chị nó nhất nhà. Nghe câu đầu là vô cảnh liền. Mà thắng Sáu thì giọng ngọt, nghe đã lắm. Hát xong là nghe tiếng vỗ tay. Lúc đó, trên bờ có hai chị em, con em kêu “anh gì ơi, hát gì mà ngọt quá chừng”. Anh em tụi tôi năm đó thanh niên, thấy con gái khoái lắm. Đặc biệt là con chị, con Hai Nhị đó chú Bá, nó đẹp lắm. Nên hai bên chọc qua, chọc lại rồi hai đứa nó mới nói là nhà tụi nó bán quán ở khúc nào đó trên kênh. Tụi nó kêu qua đó ăn uống mà hát thì nó cho miễn trả một xị rượu. Tụi nó nói rượu ngon nhà nấu luôn chứ không phải rượu tào lao. Mà công nhận là ngon thiệt, bao nhiêu năm rồi mà anh em tôi chưa kiếm được ai nấu ngon vậy. Cũng có khi là cái kỷ niệm nửa mấy chú, nó ăn vô mình làm mình mê thích. Nhưng mà nghe thì chắc cũng biết là con Hai Nhị nó khoái thằng Sáu Tánh từ đợt đó. Cứ vậy mà hai đứa nó cứ vậy mà quen nhau thôi. Thôi, vô thêm ly nửa nè.
Rượu lại rót và đưa vào người ấm nóng. Chú Bá cười cười nói:
– Cô chị thì cặp ông Sáu còn cô em thì sao? Anh Hai hay anh Tư đây?
– Có ông nào đâu – Cậu tư nói – Biết nhau được vài tháng thì nhỏ em chuyển qua Sóc Trăng ở với ông già nó. Ông bà già nó thôi nhau từ trước. Xưa ổng đi bộ binh ở vùng hai, đợt bảy lăm triệt thoái về bị trúng đạn nên sau này hay bị đau nhức. Thôi nhau nhưng còn cái tình nghĩa, bà già nó kêu nó qua Sóc Trăng chăm sóc ổng. Mà sẵn thì tôi kể tiếp luôn, thay phiên cho anh Hai tôi còn ăn nửa hà hà. Hồi đó, đâu phải có con Hai Nhị mê thằng Sáu Tánh không đâu. Nhiều đứa con gái xứ này cũng mê nó. Hát hay, nhà giàu, đẹp trai thì sao không mê được. Mà thằng Sáu thì tôi thấy thương có mỗi con Hai thôi. Mà ác cái con Hai Nhị nó thương là thương hết lòng hết dạ luôn, cũng hay ghen tuông, giận hờn đồ. Cái tánh thương mà thương sâu nặng vậy nên sau này nó khổ. Nghe mấy cái khổ này làm biếng kể quá. Anh Hai tiếp em khúc “khổ” đó cái.
Rượu lại rót, ly lại cụng, miệng lại uống. Cha tôi nói tiếp:
– Mày mà sợ cái gì, thèm ăn chứ gì? Tiếp nè. Tụi nó quen nhau được chừng năm thì bác Bảy biết. Thề là anh em tôi không hé răng gì. Nhưng mà chú Bá biết đó, bác Bảy ổng làm máy chà nên quen biết thiếu gì dân đi ghe. Ai đó biết rồi học lại cho ổng. Ổng thì không sao nhưng mà vợ ổng thì nhất quyết không chịu con Hai Nhị dù chưa gặp nó. Cũng không lạ lùng gì. Nhà thằng Sáu Tánh thì giàu nhất xứ. Con Hai Nhị thì ông bà già nó đứt gánh giữa chừng. Nhà lại làm nghề bán quán nhậu ven sông. Ngó kiểu gì cũng không xứng với nhau. Anh em tôi thì thương hai đứa nó lắm. Nhưng mà sự đời hồi xưa nó vậy đó. Thêm bác Bảy gái cũng tính cưới con Ngọc, con bí thư Luân cho thằng Sáu Tánh, là vợ nó bây giờ đó chú. Vậy là thằng Sáu Tánh bị ông bà già nó gọi về nhà không cho đi ghe nửa. Nó thì coi lãng tử vậy thôi chứ nhát lắm, đụng chuyện là không dám cãi ông bà già nên đâu dám đi ghe xuống đây nửa. Mà nó dám đi thì cho vàng anh em tôi cũng không dám chứa, chú biết vợ chồng Bác Bảy mà. Nói thiệt cái khúc đó nó buồn đứt ruột thiệt. Sáu tháng trời đi ghe xuống đây con Hai Nhị cứ hỏi thằng Sáu Tánh suốt nghe đứt ruột lắm. Mà tụi tôi thì đâu có dám nói cho nó biết, cứ nói là thằng Sáu Tánh bận công chuyện nhà thôi. Cái khoảng đó tụi tôi cũng không dám ghé quán nó luôn, làm đứt luôn tới giờ không được uống rượu ở đó nửa, tiếc thấy cha luôn. Mấy lần về Cái Mơn tôi đều nói thằng Sáu Tánh là không thương nửa thì cũng xuống dưới hay biên thư cho con Nhị nó biết chứ để nó chờ vậy thì tội nghiệp con nhỏ. Mà thằng Sáu thì tánh nó cũng kỳ, cái gì cũng nhát không chịu làm. Tôi nói nó mà không chịu nói thì anh em tôi nói luôn chứ thấy tội con Hai quá. Mà thằng Sáu thì không cho, nó ngồi khóc ngoài bờ sông với anh em tôi thấy não lòng lắm. Vậy là hai anh em tôi im luôn. Nhưng mà giấu thì giấu chứ tới bửa đám cưới thằng Sáu Tánh thì không biết sao mà con Hai Nhị biết. Nó đi vô đám nhìn cô dâu chú rể, tôi nhớ là nó mặt nguyên bộ bà ba mà bình thường vẫn mặc, tay xách cái giỏ đệm như đi chợ. Cứ vậy mà bước vào trong đám. Mà đâu ai để ý đâu, tại đám đãi lớn quá nên có nó vô cũng không ai để ý. Nó đi vô nhìn thẳng vô thằng Sáu Tánh. Thằng Sáu thấy mà như chết đứng. Lúc đó đâu ai biết gì đâu, chỉ có hai anh em tôi là biết thôi. Tụi tôi cũng bất ngờ, vừa bất ngờ mà vừa thấy có lỗi với con Hai Nhị vì giấu nó. Nó nhìn thằng Sáu một lúc rồi không nói gì, quay lưng bỏ đi. Anh em tôi cũng không dám chạy theo. Tôi nói nó buồn não ruột hôm đó… Sau này, tụi tôi đi ghe ở đây cũng không dám léo hánh gì tới quán của hai má con nó nửa. Thằng Sáu Tánh thì chắc chú Bá cũng biết rồi. Cưới con Ngọc về có vui vẻ gì đâu. Đã vậy con Ngọc cũng tính tiểu thơ đâu quán xuyến được gì. Cuối cùng nhà nó giờ không nghèo khổ nhưng cũng lận đận, không vui vẻ gì. Nghĩ mà tội, không biết con Hai Nhị sau đó ra sao.
Cha tôi thở dài một tiếng. Mặt cậu Tư cũng không vui hơn. Ông thở dài rồi nói:
– Khổ lắm anh Hai. Vô một ly rồi em nói cái này nè.
Uống xong, cậu nói:
– Lúc sáng, em đi mua bắp chủ yếu là hỏi bà già bán bắp tin tức con Hai Nhị. Bả kể con Hai Nhị khổ lắm. Sau cái hồi thằng Sáu Tánh lấy vợ, con nhỏ ở giá tới giờ luôn. Suốt ngày uống rượu. Giờ thì nhà cũng nghèo lắm, sống một thân, một mình. Cách đây ít năm, nó bán bớt một miếng đất giá rẻ bèo để có tiền chữa bệnh với mua rượu. Ác cái là sau đó vài năm, làm đường quốc lộ ngay khúc đất nó bán. Miếng đất đó lên gấp bốn năm lần. Vậy là con Hai Nhị lại càng lậm vô rượu…
Cha tôi thoáng ngạc nhiên, mắt ông lại trở sang trầm tư rồi thả ra một tiếng thở dài thường thượt. Trầm ngâm một chút, ông cất tiếng:
– Thôi, đời mà, vui đây buồn đó. Làm tiếp ly rượu thôi chứ không uổng nồi lẩu mắm.
– Ừ, phải đó. Chuyện cũng đã rồi. Nghĩ lại hai đứa nó xáp vô thì cũng chắc gì ngon lành. Thằng Sáu thì nhát, cái gì cũng không dám quyết. Con Hai Nhị thì nông nổi quá. Tính ra thì đường nào cũng về La Mã hết ráo. Có nồi lẩu mắm này là bén thôi à nhen.
Ăn uống no say, đoàn hành hương của chúng tôi chạy thẳng về lại Cái Mơn. Trong men rượu say ngà ngà, hai bên đường là cảnh vật đồng quê, một bên là sông, một bên là ruộng đồng, đầu tôi vang vọng lên mấy câu ca:
Xin được làm mây mà bay khắp nơi giang hồ
Ghé chốn quê hương xa rời từ cất bước ly hương
Xin được làm gió dập dìu đưa điệu ca dao
Chái bếp hiên sau cũng ngọt ngào một lời cho nhau
Quê hương chôn nhau cắt rốn có lẻ chỉ có một mà thôi. Nhưng đời đâu phải ai cũng chỉ ở mãi quê hương? Dù rằng chính tôi cũng xem việc được gắn bó cả đời ở một mảnh đất cũng là một phúc lành. Nhưng sống đời sông hồ lưu lãng cũng là một cái thú. Cái thú của sự phiêu bồng nay đây, mai đó. Để rồi những năm sau này khi chân đã mỏi, bầu ký ức đã đầy thì cũng là lúc những cơn nhớ nhung ùa tới. Mỗi một cơn nhớ sẽ là một con rạch, một ngã đường, một ký ức, một bầu trời và một mùi hương xa vắng nào đó. Để rồi cái lúc đó cũng là khi trong con người ta dâng lên cái ham muốn mãnh liệt một lần “Xin được làm mây mà bay khắp nơi giang hồ”. Theo cơn mây đó mà mơ một lần được ghé lại nơi xưa, chốn cũ, nơi chẳng quê hương, chẳng thân thích nhưng cũng đã để lại phần nào đó cuộc đời giang hồ lãng đãng muôn vui nhưng cũng vạn sầu.
Xin nắng hạ thôi buồn một mình ngồi nhớ lũy tre xanh dạo quanh
Khung trời kỷ niệm chợt thèm rau đắng nấu canh
