Lưu lãng #2: Xuôi dòng chợ Thom

Tôi ngáp mạnh một tiếng sảng khoái, nhìn điện thoại đã sáu giờ hơn, thằng Thiện lúc này đã đi đâu mất. Tôi bước vào nhà tắm, đánh răng, xúc miệng, rửa mặt mấy đường. Xong xuôi thì nó cũng vào, nó cười nói:
– Lạ chỗ mà ngủ ngon dữ he?
– Lạ gì mà lạ, tao ở đây từ lúc đẻ tới hơn mười tuổi mà.
Nó cười hề hề rồi đáp:
– Đi ăn sáng không? Cháo lòng thím Giang, cà phê thầy Nhựt?
– Dứt luôn chứ, lâu lắm rồi tao chưa ăn lại cháo lòng thím Giang, thằng Xuân con bả sao rồi?
– Ngon lành, mở tiệm chơi điện tử đợt giàu lắm, xong đi buôn đất, giờ ngon cơm. Được cái vẫn hiền như hồi nhỏ, lễ độ lắm.
Tôi và Thiện cứ thế, vừa đi vừa nói. Đã nhiều năm rồi tôi không về lại nơi mình sinh ra từ thời nhà tôi bán xới hết nhà cửa để mua đất vườn và chuyển về sống ở quê nội. Từ đó tôi cũng chia tay bè bạn, đặc biệt là thằng Thiện, thằng anh em chí cốt của tôi. Dù lâu lâu tôi vẫn ghé về đây nhưng ngủ lại thì chưa hề. Thím Giang và thầy Nhựt đều nhớ tôi và hỏi han đủ điều. Đồ ăn xứ này thì vẫn y nguyên ngày xưa. Cháo lòng màu huyết đặc sệt, hạt to, nở, đặc biệt là ăn chung với chén bún. Cà phê thầy Nhựt thì vẫn là ly “ông địa” lùn lùn. Tôi và thằng Thiện ăn uống rồi nói chuyện cũng như đi chào hỏi mấy cô chú bác ngày xưa. Hôm nay, tôi có việc đi một chuyến “giang hồ lãng đãng” với cậu Tư Thiên. Nhưng thay vì đi từ đầu ở nhà cậu thì tôi hẹn ổng rước tôi ở đây. Sẵn đó tôi bắn tin cho thăng Thiện rằng sẽ về ngủ nhà nó một đêm, anh em lai rai nói chuyện xưa, chuyện nay. Đêm qua tụi tôi làm gần cả lít rượu và một phần giả cầy. Nói tới giả cầy thì lại quý thằng bạn thân của tôi, nó biết tôi giờ không ăn thịt chó nhưng thú thiệt vẫn thòm thèm nên nó phải chuẩn bị cho tôi cả một nồi giả cầy ngon lành. Hai đứa tôi ăn uống, cà phê xong xuôi thì lửng thững bước ra bờ sông. Giờ cái sân trạm xá ngày xưa đã là chợ cá, tôi nhìn và nói:
– Hồi xưa trong đây toàn là bàng, anh em mình đạp xe đạp suốt. Không biết thằng Rô, con cô y tá giờ dạt về đâu rồi. Hồi xưa má con nó ở trong trạm xá này luôn.
– Ừ, tao cũng không rành. Từ đợt trạm xá chuyển đi tao cũng không biết, hồi đó mới học lớp sáu, lớp bảy gì chứ mấy.
Tôi gật gù, hai đứa tôi nhìn ra bờ sông rồi nói chuyện tắm sông ngày xưa. Xong rồi lại ngó vô nhà thằng Nhạc, xưa nó chơi chung với tụi tôi, Nhạc nhỏ hơn hai đứa tôi vài tuổi, nó có ông già bị tâm thần cả chợ đều biết. Tôi nhớ có lần bà ngoại nó chết, không hiểu sao mà tụi nhỏ tụi tôi lại đâm ra sợ ma, chẳng đứa nào dám mò ra đây tắm cả. Đang nói vu vơ thì tiếng còi ghe hú lên, một chiếc ghe dần hiện lên, người trên đó là cậu Tư Thiên. Tôi vẫy tay với ông và quay qua từ biệt thằng Thiện. Tôi sau đó phóng lên ghe, nhìn lại bến nước thì thằng Thiện vẫn nhìn theo, tôi cũng dõi theo nó cũng như cái bến nước nơi tôi sinh ra đến tận khi khuất hẳn sao rặng dừa nước. Ngay lúc này, trong đầu tôi lại vang lên âm điệu bài hát Hoành Tân của nữ ca sĩ Sơn Kỳ Sơ Tử trong đó có mấy câu đại ý như sau
Mưa, mưa cứ rơi, Hoành Tân Thị của tôi.
Vì tôi yêu cái thị thành này nên tôi sẽ chẳng muốn rời đi.
Mưa, mưa cứ rơi, ôi Hoành Tân Thị của tôi.
Lên ghe được đoạn, cậu Tư Thiên hỏi:
– Lâu dữ mới về đây há? Chợ này cậu thấy cũng như hồi xưa, không đổi thay gì hết. Không bù cho chợ mình, giờ mà đi nửa năm thôi là đã không nhận ra nổi. Nay cậu đưa con vợ của cậu đem gả cho người khác lòng buồn ghê Trung à.
Tay cậu vỗ vỗ vô cái thành ghe rồi nói tiếp:
– Giống hệt cái tích, cái sử gì mà xưa ông già của cậu, ông ngoại con đó hay kể. Cái gì mà vua Trần gả vợ là bà họ Lý cho người khác á. Đời, nhiều cái sầu.
Tôi cười mà không biết nói gì, cậu Tư Thiên là người đã rong ruổi sông nước quá ba phần tư cuộc đời vậy mà nay phải bán đi “con vợ” của mình. Cậu nói tiếp:
– Hình như con cũng từng đi ghe ra Thom rồi phải không?
– Dạ đúng – Tôi chợt nhớ lại lần đó – Đợt đó con học lớp năm, một năm sau là chuyển nhà về quê nội con luôn. Năm đó hình như bị gì đó mà phải ghe qua chợ Thom.
Cậu Tư ngẫm nghĩ rồi vỗ đùi:
– Rồi, rồi, nhớ rồi. Đợt đó hình như cầu Kinh Ngang hay Mỏ Cày bị thằng nào lái ghe hay sà lan gì nó tông vô làm nứt hay sao đó. Nên anh chị hai đi ghe xuống Thom để mua bán xơ dừa gì đó.
Tôi gật gật đầu vì cũng không nhớ rõ, ký ức chuyến đi đó khá mập mờ, thứ duy nhất tôi nhớ chỉ là hình ảnh những núi xơ dừa cao ngất hai bên bờ sông khi đến gần chợ Thom. Ghe cứ chạy đều đều, hai bên bờ toàn là dừa nước. Đến một đoạn có cây cầu cao cao, cậu Tư Thiên lại hỏi:
– Con biết cây cầu này là khúc nào không?
Tôi lắc đầu, cậu Tư Thiên nói tiếp:
– Cái bến đò mà đi Bến Tre á.
Tôi “a” lên một tiếng. Đây là cái bến đò mà tôi đã đi không biết bao nhiều lần từ lúc nhỏ trong những chuyến lên thị xã. Tôi hỏi cậu Tư Thiên:
– Giờ cầu này kêu là cầu gì vậy cậu?
– Cầu Nhà Nguyện á.
Tôi lại gật gù. Tôi hiểu tại sao người ta lại đặt tên như vậy. Hồi còn nhỏ, bên bờ bên kia của bến đò có một nơi chờ đò. Chổ đó có đặt một bức tượng Đức Mẹ. Có vẻ vì thế nên giờ người ta đặt tên cầu theo bức tượng. Tôi khá ấn tượng chổ đó vì ở xứ này, đếm người theo đạo chắc nằm trên đầu ngón tay. Nhớ lại cả khu chợ ngày xưa chỉ có nhà tôi với một nhà nửa là theo đạo Thiên Chúa, mỗi lần đi lễ toàn phải về Cái Mơn để đi. Hồi nhỏ, nhà tôi muốn đi ra thị xã đều phải đi bằng đường này bởi vì đường Ba Vát thời đi đang xây dựng, rất bụi còn đường qua Mỏ Cày thì xa và nắng. Ghe vẫn cứ chạy, ký ức của tôi cũng cứ thế chạy theo từng cơn sóng nước. Dần dần chợ Thom cũng xuất hiện trước mắt cậu cháu tôi thông qua những núi dừa hai bên bờ và những ghe chở dừa, từ dừa trái đến xơ dừa hai bên bờ sông. Cậu Tư Thiên nhìn một cái bến sông rồi nói:
– Con có đi đâu chơi chợ Thom không? Không thì đi giao ghe với cậu.
– Dạ, chắc con đi vòng vòng một chút đó cậu. Chắc có gì cậu xong công chuyện thì điện thoại cho con để về chung là được.
Cậu Tư Thiên gật gật đầu rồi tấp ghe vào bến. Hai cậu cháu tôi tạm từ giã ở đây. Tôi bước đi một vòng chợ Thom, nơi mà vốn đã mịt mù nơi ký ức của tôi. Trong cái mớ mịt mù đó, có một thứ vẫn còn hiện hữu đến tận bây giờ. Đó là những ngày cũ, những ngày mà cha mẹ đem tôi theo sang chợ Thom để bàn chuyện bán buôn hàng hoá. Đó là những chuyến đi dài trên xe máy và điểm đến luôn là một xưởng xơ dừa rất lớn bên bờ sông chợ Thom. Chủ xưởng đó là hai vợ chồng cỡ tuổi cha mẹ tôi, người vợ là người trực tiếp bán buôn cũng như sổ sách. Nhà này có duy nhất một người con gái bằng tuổi tôi, nó tên là Xuân. Con Xuân bằng tuổi tôi. Tôi nhớ mỗi lần cha mẹ tôi ghé xưởng xơ dừa để bàn chuyện mua bán thì hai đứa nhỏ tụi tôi hay ngồi chơi với nhau. Nhà Xuân theo đạo Thiên Chúa. Như tôi đã kể đó, thời đó kiếm được một đứa bạn cùng tin Chúa là đều gì đó xa vời với tôi. Xuân chẳng những tin Chúa mà Xuân còn rất dễ thương nửa. Tôi vẫn nhớ Xuân có mái tóc dài, răng đều và đẹp, lúc nào cũng đeo một sợi dây chuyền bạc hình thập tự. Mỗi lần ghé xưởng là hai đứa tôi đều ra ngồi ở chổ cái thềm nhà của Xuân, từ đây có thể nhìn ra được con sông nơi có ghe xuồng qua lại. Tôi nhớ những lần đó tụi tôi hay hỏi nhau mấy chuyện linh tinh, Xuân hay hỏi tôi về nơi tôi ở, về những người bạn của tôi và những trò tôi hay chơi với tụi nó. Xuân hỏi thế vì Xuân không có nhiều bạn, do nhà giàu nên Xuân thường phải ở nhà và ít được đi chơi. Tôi thì hay hỏi Xuân về nhà thờ vì những năm đó do nhà xa nên tôi chưa được đi học giáo lý, tôi không biết nhiều về nhà thờ. Cứ thế mà trong suốt hai ba năm gì đó, hai đứa tôi cứ ngồi ở cái hàng hiên đó, nhìn ra bờ sông và trao nhau mấy câu chuyện trẻ con. Hết hai ba năm gì đó, nhà tôi bán hết nhà cửa để chuyển về quê nội sống. Từ đó, tôi cũng dần xa quê cũ và đương nhiên là xa cả Xuân với không một lời từ giã. Đôi lần khi nhìn thấy những chiếc ghe chở hàng ở Quận 4 hoặc đường Võ Văn Kiệt, tôi vẫn hay nhớ về Xuân, về những ngày mà hai đứa tôi cùng ngồi với nhau chuyện trò. Dù sao cũng chẳng biết đi đâu, thế là tôi quyết định sẽ ghé thăm Xuân và cô chú một chuyến. Tôi không nhớ chút nào về địa chỉ của nhà Xuân vì lúc đó tôi còn nhỏ quá, tôi chỉ nhớ mang máng rằng đó là một ngôi nhà tường lớn, phía sau là cả một sân đựng xơ dừa và có một cái bậc thềm màu tía nơi mà hai đứa tôi vẫn ngồi cùng nhau. Tôi bước dần vào chợ, chợ Thom có vẻ không quá khác ký ức của tôi, một dãy phố hẹp dẫn vào trong nhà lồng chợ. Đi hết dãy phố đó, tôi tìm vài người để hỏi địa chỉ nhà Xuân. Với những mô tả khá mập mờ từ ký ức mờ tỏ của một thằng nhóc thì tôi cũng biết được chổ tới nhà của Xuân. Chỉ là ngôi nhà này có lẻ chẳng phải ngôi là gạch cùng cái xưởng và mái hiên ngày xưa… Tôi cứ bước và bước trên một con đường xi xăng với hai bên nhiều dần lên những gốc dừa. Trước mắt tôi lúc này là một ngôi nhà tường màu xanh nhạt thấp thoáng sau tường rào bằng hoa dâm bụt. Trước cửa nhà là một cái hiệu tạp hoá bằng gỗ nhỏ treo các loại bánh trái, nước ngọt… Tôi đứng gần đó mà nhìn vào, tôi không biết sẽ làm gì tiếp theo. Nếu không có gì xảy ra, có lẻ tôi sẽ đứng đó nhìn tới lúc cậu Tư Thiên gọi điện kêu tôi về. Nhưng có vẻ số phận chẳng để chuyến đi của tôi trở nên trống rỗng như thế. Trong lúc đang đứng nhìn thì có hai người, một lớn một nhỏ có vẻ là mẹ con đến tiệm mua đồ. Bước từ trong tiệm ra là một cô gái, tôi đoán đó là Xuân. Bởi vì phần nào đó, tôi nhận ra Xuân, dù gương mặt đã khác xưa nhiều, dáng người nhỏ bé và gương mặt Xuân đậm nét tảo tần hơn. Nhưng riêng đôi mắt, đôi mắt vẫn vậy, vẫn trong sáng như lúc còn nhỏ, vẫn mang vẻ hiền dịu mà tôi từng biết. Tôi nhìn họ mua bán mà đôi chân cứ đưa lên rồi hạ xuống. Dù có chút ngại ngần nhưng nghĩ lại thì có lẻ bỏ qua chuyến này thì không biết khi nào mới có thể gặp lại bạn cũ. Nên tôi bước chầm chậm tới cửa tiệm, lúc này Xuân vẫn đang thu xếp mấy món đồ bán buôn lúc nãy. Thấy tôi bước gần tới, Xuân nhìn tôi cười nhẹ nhàng hỏi:
– Anh mua chi á?
Tôi hơi khựng lại, giọng nói thì chẳng hề giống lúc xưa nhưng khi thấy lại nụ cười đó thì sự thân quen nơi ấu thơ lại ùa về. Tôi ngập ngừng chút:
– À, không. Cho hỏi phải đây là nhà của Xuân không? – Để chắc ăn tôi định hỏi thêm tên của má Xuân nhưng nhất thời không nhớ nên đành hỏi thêm – Xuân lúc trước nhà bán xơ dừa ở cập mé sông…
Hơi ngạc nhiên, Xuân đáp:
– Ừ, tôi là Xuân nè, anh là…
Tôi cũng hơi ngậm ngừng, thoáng tích tắc trong đầu tôi là một nỗi lo sợ xẹt qua, tôi lo rằng có khi Xuân cũng chẳng còn nhớ tôi là ai, dù gì thì cũng gần hai thập kỷ rồi. Nhưng bỏ qua tất cả những nỗi ngượng ngùng, tôi đáp:
– Tôi là Trung, hồi nhỏ cha mẹ tôi hay mua xơ dừa ở nhà Xuân á.
Xuân nghe xong nhìn tôi rồi reo lên:
– Trung! Trung con cô hai phải không? Cô hai ở Ba Vát?
Tôi mừng vì Xuân vẫn nhớ tôi, cười đáp:
– Không, Giồng Keo.
– À, đúng rồi Giồng Keo. Tôi cứ lộn với Ba Vát tại dì tôi ở đó.
Xuân cười, thoáng chút ngại ngùng, giống hệt như lúc nhỏ khi Xuân nói gì đó rồi nhận ra mình nói sai. Tôi cũng cười lại với Xuân, tự nhiên trong phút giây nào đó, tôi thấy mấy cái hình ảnh ngày nhỏ như hiện về. Cửa tiệm tạp hóa bên đường bỗng biến thành cái hiên nhà bên mé sông ngày xưa… Nhưng chỉ thoáng chốc thôi khi mà Xuân kéo tôi về ngay thực tại. Xuân mời tôi vào nhà uống nước, tôi bước vào. Căn nhà bên trong khác hoàn toàn với căn nhà ngày xưa, mọi thứ quá đỗi đơn sơ với những món đồ cơ bản. Duy có một thứ làm tôi dán mắt vào đó là một bức tượng con mèo làm bẳng thủy tinh để trên tủ. Thấy tôi nhìn vào đó, Xuân cười nói:
– Trung thấy nó quen không?
Tôi cười đáp:
– Tôi nhớ mà, hồi đó cái này má tôi đi Tây Ninh về mua cho tôi.
– Rồi cái đem cho tôi…
Tôi ngại ngùng, mĩm cười, cảm giác cứ như đứa con nít. Để thoát khỏi cái ngại ngùng thì lần này, tôi chủ động hỏi Xuân:
– Cô chú có nhà không Xuân?
Xuân như chợt khựng lại, rồi cô đáp với giọng nhẹ đi:
– Má tôi đi đám giỗ bên ấp bên kia rồi, còn cha tôi thì mất năm sáu năm rồi.
Tôi ngạc nhiên vô cùng, miệng lưỡi chợt ngưng động chưa biết cảm thán sao, thật đột ngột. Tôi hạ giọng:
– Xuân cho tôi đốt nén nhang cho chú.
Trong ký ức của tôi, cha Xuân là người hiền lành, giỏi giang và chăm chỉ. Ông cũng khá “cưng” tôi mỗi lần nhà tôi ghé mua xơ dừa. Tôi nhớ có vài lần, ông ngồi lặng yên ở cái ghế bên mé sông mà nhìn xa xăm, tôi không biết ông nghĩ gì khi đó, tôi chỉ biết là hình ảnh đó có ông đôi lần vẫn trở về trong tâm trí tôi khi mà chỉnh bản thân tôi sau này cũng không ít lần lặng yên trước sông nước xứ mình. Thắp xong nén nhang tôi hỏi Xuân về việc cô chuyển về đây khi nào. Xuân nói cũng được năm bảy năm rồi, nói xong Xuân lặng yên một lúc như đang nghĩ về cái xa xăm nào đó. Sau đó, Xuân nở một nụ cười nhẹ rồi nói rằng:
– Mấy năm rồi làm ăn khó khăn quá. Nhà cửa gì rồi cũng phải bán đi.
Tôi đáp:
– Ừ, nhà cũ tôi cũng bán rồi. Từ dạo mà nhà tôi không lên nhà Xuân mua xơ dừa nửa á. Sau đó nhà tôi chuyển về vườn ở…
– Hồi nhỏ mình ngồi nhìn mây nước riết rồi giờ đời hai đứa ngó cũng lênh đênh ghê há.
Tôi mĩm cười, khẽ gật đầu. Xuân cũng cười nhưng trong đôi mắt ấy có vẻ chứa những nghĩ suy xa vời của cái thời nhỏ nhoi, xưa cũ bên sóng nước… Đúng lúc đó thì có tiếng xe máy ghé lại trước sân. Tôi đinh ninh là cô về, tôi nghĩ chắc cô cũng sẽ ngạc nhiên lắm khi gặp lại tôi. Nhưng khi tôi còn chưa thấy ai vào thì đã có tiếng reo lên “Mẹ ơi, mẹ ơi”. Một đứa bé gái chừng cấp một chạy một hơi vào và ôm lấy Xuân. Xuân cũng choàng tay qua mà ôm và xoa đầu nó. “Vậy Xuân cũng có chồng rồi.”, tôi nghĩ thầm và nhìn hai má con. Con bé quay qua thấy tôi thì nó hơi bất ngờ và bẽn lẽn. Xuân nói:
– Thưa chú đi con, đây là chú Trung bạn mẹ.
Con bé khoanh tay lại chào tôi, tôi cũng cười với nó. Tôi định hỏi han nó vài câu thì một người xách theo cặp bước vào. Tôi đoán là chồng Xuân. Xuân lại lần nửa giới thiệu tôi, tôi cũng cười chào anh ta. Chồng Xuân có vẻ lớn tuổi hơn tôi, anh mặc áo sơ mi, quần tây, bỏ áo vào quần cộng thêm dáng người gầy gầy và cặp kính dày làm toát lên một vẻ khắc khổ. Xuân giới thiệu sơ về tôi với chồng, ai cười thật hiền rồi bắt tay tôi và nói:
– Mừng quá, khách quý, khách quý. Nay Trung không bận gì thì nhất định nhậu bửa nha.
Anh ta vừa cất tiếng thì con bé liền nheo mắt kéo mẹ nó và nói:
– Nãy cha đi nhậu đó mẹ.
Xuân nhìn chồng phàn nàn:
– Nhậu nửa hả? Nay ngày đi làm mà.
Anh ta xua xua tay, gãi đầu nói:
– Anh đâu có tính nhậu nhẹt gì đâu, mà nay có mấy thầy, rồi mấy anh bên uỷ ban qua thăm trường nên mấy thầy cũng có chút đỉnh tiệc nhẹ á mà.
Trong lúc phân trần, không hiểu là hiếu khách hoặc tìm đường lui, anh chàng đánh lảng bằng cách nói:
– À mà nhà đang có khách mà em, mấy này để lúc khác nhe.
Xong anh quay qua tôi rồi hỏi:
– Em có gấp gì không? Cơm nước chưa, sẵn nay cũng ở nhà. Hay em ngồi đây làm bửa cơm với rượu với nhà anh nha.
Nói dứt lời, anh ta ngó ngó ra sân tìm gì đó rồi hỏi tiếp:
– Em hổng có đi xe phải không? Không đi xe chắc nhậu êm ru hả?
Tôi hơi bất ngờ nhưng cũng không quá ái ngại sự “nồng hậu” của anh ta. Tôi cười cười, gật đầu nói:
– Em thì không sao nhưng mà sắp tới cậu em làm công chuyện xong sẽ đi rước em về nên sợ có gì bỏ ngang cái rụp thì kì.
– Không sao, không sao – Anh xua tay – Duyên tới đâu, nhậu tới đó.
Xuân cũng không nói gì, cô nhìn qua lại rồi nói:
– Mà nay nhà không có sẵn đồ ăn, tại nay má đi ăn giỗ, chút em tính dắt cả nhà qua bên kia ăn đám nên cũng không nấu gì. Chắc để em coi còn gì không nha.
Anh chồng ngó qua tôi nói:
– Nhà nay hơi ngặt, chắc em chịu khó nay đạm bạc xíu nha.
Tôi cười và gật đầu, ông anh đúng là thiệt tình hết sức. Ổng ngó sang vợ hỏi:
– Hình như sáng còn mớ thịt với tôm khô còn lại á. Chắc em làm dùm anh nồi kho quẹt nhỏ nhỏ nha – Xong quay qua tôi hỏi – Em ăn kho quẹt chắc được hả?
Tôi gật gật đầu, Xuân cười rồi dắt con bé theo sao bếp. Ngồi vào bàn được chút, tôi chưa kịp hỏi tên thì anh ta đã chạy ra phía sau nhà, nói là rửa mặt, rửa tay chút cho mát. Tôi ngồi một mình mà ngó chầm chậm cả căn nhà. Đúng là mọi thứ quá đỗi đơn sơ, nó thật khác xa căn nhà ngày xưa khi hai đứa tôi vẫn còn nhỏ, từ cái giường, cái ghế, cái bàn cho đến cả cái rèm che cửa. Nhìn qua một lượt, tôi lần nửa chợt nghĩ trong đầu cái câu gọi lỏn “Vậy là Xuân đã lấy chồng…”. Xong tôi cũng thấy mắc cười, tuổi của tụi tôi có còn nít nôi gì nửa đâu mà ở một mình. Đang nghĩ thì anh chồng cầm mớ chén lên với rổ rau, anh cười:
– Mẹ con bé đang luộc rau ở dưới, đây có mớ rau sống luôn nha.
Để tránh vụ tên họ bị trôi mất, tôi hỏi:
– Dạ, mà anh tên gì nè. Nãy giờ anh em nói chuyện quá là nói mà quên hỏi.
Anh gãi đầu đáp:
– À, à quên bén luôn. Anh tên Nhật. Anh hơn em với vợ anh hai tuổi á. Anh làm ở trường cấp ba gần đây nè.
– À, vậy là thầy Nhật rồi.
– Thôi, thầy bà gì, dạy được mống học trò nào đâu mà dám xưng thầy.
– Là sao vậy anh? – Tôi hỏi.
– Thì là vậy đó, chút rượu vào là hẳn lời ra thôi, rồi anh khai tuốt ruột với em á mà.
Anh ta cười cười, lúc đó, Xuân cũng bưng mâm cơm lên. Trong mâm có một tô rau luộc gồm rau lang, rau muống, tôi đoán là mọc ở tròng vườn. Kế đó là nồi kho quẹt thơm lừng gồm thịt heo, tôm khô, hành, tiêu ớt với nước kho đã kẹo lại nhìn mà ngon hết nấc. Kế bên không thể thiếu tô cơm nguội. Vậy là quá đẹp! – Tôi nhủ thầm. Vừa đặt mâm cơm xuống thì Xuân nói:
– Chắc Trung ngồi chơi với anh Nhật nha. Giờ Xuân phải chở con nhỏ con này qua bên chổ má tôi để nói ăn giỗ.
Tôi thoáng ngại, vì có khi do tôi ở đây mà phiền nhà bạn mình. Xuân cười nói:
– Không có phiền gì đâu nha. Ông này xỉn vầy rồi, ai mà dám cho ra đường, xui xui đứt cả triệu chứ ít ỏi gì.
Anh Nhật xua xua tay, cười cười kiểu như muốn nói vợ cứ yên chí, để khách ổng tiếp cho. Thế là Xuân cùng con gái nổ máy xe đi. Để lại gian nhà còn hai thằng đàn ông. Ông Nhật đi vô tủ lấy hai cái ly với chai Johnnie Walker Red còn nguyên hộp ra rồi cười cười nói:
– Nay có khách quý mới dám khui chai này ra. Chứ không chắc nó lặng thầm hết đời trong xó tú.
– Dạ, quý không dám nhận quý nhưng rượu thì em không chối từ nha anh – Tôi cười đáp lại.
Cứ thế mà buổi nhậu diễn ra. Tôi gì thì gì chứ cũng đói, nhảy thẳng vào màn kho quẹt. Công nhận nó ngon quá trời, thịt mềm không cứng, tôm khô thơm, tiêu cay vừa đủ, nước không mặn gắt, Rau thì vừa chính tới, đọt còn giòn, lá không nát. Qua lại mấy chung rượu kèm mấy câu hỏi qua lại về nhau, thì anh Nhật có vẻ cùng hơi ngà ngà. Tôi đoán do ổng nhậu không giỏi cũng như mới làm một trận bên trường rồi. Trong cái ngà ngà đó, ổng hỏi tôi:
– Chắc Trung biết vợ anh từ nhỏ vậy chắc Trung biết ông già vợ anh.
Tôi gật đầu nói biết. Ổng nói tiếp:
– Không biết Trung biết chuyện nhà vợ anh mấy năm nay không, nếu không chắc cũng bất ngờ hé. Nhà giờ khác xưa lắm, dù hồi xưa có khi anh tiếp xúc với nhà vợ anh còn ít hơn Trung, tại hồi nhỏ anh đâu có cửa mà nhìn tới chứ nói gì bước vô. Thôi vô cái nè.
Tôi và ông Nhật nốc cạn một ly. Ổng nói tiếp:
– Mà dù chưa tiếp xúc nhưng chắc anh nghĩ Trung cũng chịu là ông già vợ anh hiền lắm. Mà ổng cũng có cái tật, mà ác là ông trời lại trêu ngươi cái tật của ổng. Lúc anh cưới Xuân thì ổng mất mấy năm rồi. Nghe vợ kể hồi đó ổng cũng tốt lắm, thương vợ thương con mà ngặt cái ổng thèm một thằng cu. Ác cái má vợ anh thì không sinh thêm được nửa. Thế là ông qua lại sao đó với bà nhỏ. Anh nói này không phải bêu rếu gì nha. Nhà vợ anh cũng không giận hờn gì ổng. Cô đó đẻ được đứa con trai thiệt, ổng cưng lắm. Mà cô đó thì không có chịu cho ổng bắt về. Cô đó nói không cần gì chỉ cần đứa nhỏ thôi. Thì thôi là thôi vậy. Thế là nó sống với má nó, ông già qua lại thăm nom. Má vợ anh cũng không cằn nhằn gì. Chắc cũng tội ổng khúc đó, trời ơi, đàn bà xứ mình nhiều khi cam chịu vậy mà… Với lại trừ cái vụ đó thì ông già cũng lo ăn, lo làm, chắc Trung cũng biết ổng mà. Tưởng vậy êm êm rồi. Ai ngờ trời định mấy cái ngặt quá. Có năm đó, hai má con cô kia đi đò về Trà Vinh ăn giỗ. Ác nhơn sao đó mà lật đò. Hai má con chết đuối hết…
Nói tới đây, anh Nhật thở dài, tôi cũng lặng yên trước việc đã xây ra với cha Xuân. Tôi độ chắc lúc đó ông đau thấu trời luôn. Anh Nhật rót ly rượu ra rồi hai đứa lại cạn. Ổng lặng yên chừng vài chục giây rồi nói tiếp:
– Sau cú đó, ông già không thiết làm ăn. Cứ thế mà cơ nghiệp đi xuống rồi ổng cũng mất trong men rượu.
Nghe cũng thiệt buồn. Ổng cười cười nói:
– Mà kể vậy thôi chứ không phải để chê rượu nha. Làm cái nửa nè, lâu lâu mới có khách tới nhà làm miếng rượu để mà tâm sự vầy. Vô cái nửa nè.
Tôi cười cười, nghĩ lại nghe ghê ghê chứ vô vẫn cứ vô mạnh. Nóc xong rồi anh Nhật lại rơi tiếp vào im lặng. Im chút ổng lại rủ tôi cạn, cạn xong ly này ổng mới nói:
– Chắc Trung thấy lạ sao anh kể Trung mấy này. Anh không phải nhiều chuyện hay muốn bêu rếu gì đâu. Chỉ là không có chuyện đó thì không có chuyện anh bây giờ. Hồi đó, anh học trên Xuân một lớp. Sỡ dĩ lớn hơn hai tuổi mà chênh có một lớp là tại hồi cấp một nó năm nghèo quá nhà anh phải nghỉ một năm. Hồi đó Xuân đúng là số dách của trường. Xuân đẹp, hiền, nhà giàu, học giỏi. Ai mà không mơ được. Anh cũng thương thầm Xuân, anh mến cái tính Xuân giàu mà hổng khinh ai nghèo, đã vậy Xuân lại còn học giỏi. Mà Trung biết đó, phận anh thời đó sao với được, mơ còn không được. Người ta hay nói đỉa đeo chân hạc mà anh còn không được như đỉa thì đeo bám gì. Mà nói vậy chứ cũng biết sợ, biết ghen nha. Vô cái này.
Ổng cười tũm tĩm như đứa con nít, làm ly rượu xong nói:
– Lâu lâu nghe tụi bạn đồn rằng Xuân có bồ, có để ý ai nên lâu lâu thơ thẫn này nọ như mong nhớ ai đó thì anh cũng thấy lòng mình sợ sợ, ghen ghen. Mà mắc cười là từ đầu đã biết là mình làm gì có cửa với người ta. Vậy mà tối nằm ngủ cũng bày đặc trằn trọc này nọ. Thiệt, đời anh có cái đó nó kì. Mơ mơ màng màng, rồi thức dậy hổng còn gì.
Ổng vừa nói vừa lắc đầu, cười cười, buồn buồn. Tôi chủ động rót rượu rồi mời ổng mà nói:
– Sao không? Không phải giờ anh rước nàng về dinh rồi sao?
– Dinh gì mà dinh em – Anh Nhật lắc đầu, ngó quanh – Dinh thì cũng là dinh nhà vợ mà.
Chấm miếng rau muống vô miếng cơm, đưa cái gọn ơ, anh Nhật thở dài:
– Nghĩ đời cũng lạ hé. Anh nói không có cửa vậy chứ cũng lén lén mơ mộng. Cũng cố học hành. Năm đó anh học sư phạm lý bên Cần Thơ, cũng ngon lành lắm à. Được vô hàng “top” đàng hoàng. Anh tính cố xin xỏ để về quê dạy. Hồi đó nhà Xuân chưa gặp chuyện nhưng mà đời mà, ai biết được. Anh cố học giỏi, chờ thời biết đâu. Mà đúng là thời tới, buồn cái là “xui cho Lan…”. Nhà vợ mình gặp chuyện thế mà qua mai mối này nọ mình mới có cửa. Chứ không chắc sao mình có được ngày hôm nay. Nghĩ lại cũng buồn cho Xuân, một thời tiểu thư mà giờ vầy…
– Thì anh cũng là ông thầy giáo đàng hoàng mà. Có gì tệ đâu mà anh rầu.
Tôi an ủi ổng vì ổng có vẻ hơi lún sâu chút đỉnh. Anh Trung nhướng mày, lặng lẽ rót rượu rồi nói:
– Anh nói Trung nãy đó, anh có dạy được ai đâu mà thầy với bà. Hồi về đây, anh tưởng xin được về trường cũ thì dạy học lai rai cũng được. Không có tài lộc cũng có chút đỉnh danh phận với đời. Mà Trung biết đó, mấy vụ này có cô-ta hết rồi. Hồi xưa có ông thầy già với một ông trẻ còn dạy. Anh về thì được coi như một dạng dự bị. Thế là anh được cho cái chức danh giữ phòng dụng cụ để chờ vài năm nửa thầy già về hưu thì anh thể chân vô dạy. Nhưng mà ác cái là còn năm nửa thầy về thì anh bị điều qua trường cấp ba kế bên vì lý do bên đó thiếu người mà bên đây dôi dư. Tưởng làm gì, qua đó người ta nói anh trẻ, kiểu còn hơi teen teen á. Nên làm mấy chuyện văn nghệ, tổng phụ trách đồ. Tóm lại là múa hát góp vui chứ không còn liên quan gì tới vật lý. Mà trên kêu sao thì dưới nghe vậy. Anh chạy xe tuốt qua kia làm cả năm trời, mà thời đó vợ anh chuẩn bị sanh. Vậy mà anh cứ chạy qua, chạy lại có lo được gì đâu. Lương còn ít nửa. Vậy là để Xuân khổ… Mà ác cái vầy. Xong một năm hơn đó thì anh về lại trường cũ. Tự nhiên lòi đâu ra ông thầy sinh viên, nhảy vô làm thầy dạy lý gọn ơ. Ờ thì nghe đâu nó con cháu gì ông hiệu phó, đút, nhét dữ lắm. Anh thì buồn, buồn chớ. Mà cũng chịu chứ phận mình tới đó thôi. Mà tức cái là lúc anh hỏi tại sao không chọn anh thì ở trên trển á, nói anh hơi già, bạn trẻ hơn, kiến thức mới nhiều, gần gũi học sinh dễ. Ác ôn chưa! Vậy mà bên kia thì khen mình trẻ để gò mình vô cái cây mua vui, giờ này nói thế. Đời bạc hết sức…
Nói xong anh Nhật lại rót rượu, ổng nóc tiếp xong nheo mắt, thở hắt ra rồi nói tiếp:
– Nghĩ lại buồn cho Xuân, tính ra dù nhà có xuống cấp cỡ nào nữa thì Xuân cưới mình cũng không đúng. Nó trật lất. Mình thì dở quá dở làm vợ con không sung sướng được ngày nào.
Tôi cố nén mấy cái tiếng thở dài trong bụng lại mà lồng ngực nghe chật cứng. Thật lòng tôi không biết phải nói gì, bởi mấy cái câu xoa xoa mà nói ra lúc này nó giả lắm. Trong cái lúc phân vân đó thì anh Nhật lại chợt cười cười, giọng nhẹ đi và rót rượu xong nói:
– Mà đời mà, buồn buồn chứ cũng hay hay. Làm mấy vụ đoàn hội thì mấy thầy cô cứ động viên là làm mấy cái này cũng ngon, vô diện “quy hoạch” lên hiệu phó, hiệu trưởng đồ. Mình biết người ta nói giỡn giỡn thôi nhưng mà cũng vui. Chớ không vui thì không lẻ buồn hoài sao, buồn hoài lấy đâu ra tinh thần mà lo vợ, lo con.
Nghe ổng giỡn thế tôi cũng thấy lòng nhẹ hơn, cười và cụng ly với anh Nhật. Hai ly rụng nhau keng một tiếng, chưa kịp đưa lên môi thì chuông điện thoại đã reo lên. Cậu Tư Thiên gọi. Tôi nghe máy, cậu Tư hỏi chổ tôi đang ở để rước tôi. Tôi không biết mô tả sao nên đưa máy cho anh Nhật, bên kia cậu Tư Thiên cũng đưa máy cho tài xế bạn ổng. Nói qua lại vài câu thì té ra ở trên cùng con đường, ổng nổ máy là không tới hai phút sẽ tới nơi. Tắt máy, tôi nhìn anh Nhật cười và nói:
– Dạ, chắc em phải đi rồi anh.
– Ừ, ừ. Nay nhậu được bửa rút ruột, rút gan, rút xong thấy thiệt đã đời. Khổ cái nhà có nhiêu đây thôi.
Tôi vỗ vai ổng rồi nói:
– Nhiêu đây là đã đời lắm rồi. Lâu lắm rồi em không được nhậu như vầy.
Tôi tính nói thêm vài câu nhắn gửi này nọ vì sợ rằng ngày tái ngộ còn xa. Nhưng lời chưa ra khỏi miệng thì tiếng kèn xe đã inh ỏi ngoài ngõ. Tôi và anh Nhật cùng bước ra. Ổng và cậu Tư Thiên với ông tài xế chào hỏi qua lại vài câu rồi tôi cũng lên xe. Tôi nói:
– Anh cho em gửi lời hỏi thăm cô nha anh. Anh với Xuân với cháu mạnh giỏi nha.
Anh Nhật bắt tay tôi cái thật chặt, cười cười rồi nói:
– Chắc chắn rồi, Trung với bác đi mạnh giỏi nha. Chuyến tới có về Thom nhất định ghé anh nha. Có khi lúc đó anh thành ông hiệu trưởng rồi. Đời mà, ai biết được.
– Nhất định, nhất định! – Tôi cũng vỗ vai anh và bước lên xe.
Anh Nhật đứng ở đầu ngõ nhìn theo chiếc xe đến khi khuất bóng hẳn. Xong xuôi, tôi ngã lưng một cái thật đã lên ghế xe. Cậu Tư Thiên cười hề hề hỏi:
– Làm một bận cũng dữ ha.
– Dạ, cũng sương sương thôi cậu.
– Thằng đó bạn học hay gì á?
– Không, chồng của bạn con. Chổ mà xưa ba má con hay đi mua xơ dừa đó cậu.
– Ủa! Vậy hả? Cậu nhớ chổ đó bự lắm mà giờ sao còn nhiu đây á?
Ông tài xế nghe thế thì lại quay xuống kể lại một hơi sự tình nhà Xuân. Nghe xong cậu Tư Thiên cũng hơi sầu. Để tránh phải lún vô cái hố bi kịch đó, tôi đá qua chuyện khác:
– Vợ hờ của cậu nay sao rồi?
– Ờ thì về với người mới rồi chứ sao. Cũng buồn. Mà thôi biết sao giờ. Giờ cậu già rồi, rong ruổi được nhiêu nửa mà đeo mang thêm. Nhớ ghê cái thời cậu với cha con đi buôn, đi bán. Giờ lộ nhựa đồ cũng ngon rồi, xe chạy vèo vèo đâu như xưa nửa. Mấy ông già này cũng đau lưng, mỏi gối rồi, sức đâu mà chống với chèo nửa.
Tôi dạ tiếng rồi cũng hơi ngã lưng, mắt nhắm hờ. Có lẻ rượu giờ mới ngấm phần vào. Trong cái chếnh choáng đó tự nhiên tôi nghĩ tới cậu Tư Thiên hay cha tôi giữa cái thời lộ nhựa này. Sông nước, ghe xuồng giờ coi nhưng phần nào cũng khép màn. Như mấy người cao bồi vùng gió cát xứ Hoa Kỳ hoặc mấy người lính Bình Xuyên chọc trời khoáy nước một thời…
Tôi thả mình trong mấy cái liên tưởng đó cho đến khi cậu Tư Thiên vỗ vai tôi rồi nói:
– Tới rồi con. Cậu có đặt xe cho rồi. Chắc ra quán cà phê ngồi chờ đi, chút nửa nó tới á.
Tôi vẫn còn hơi say, say bia và cả say ngủ nên dụi dụi mắt bước xuống. Cậu Tư Thiên nói mấy câu như đi mạnh giỏi này nọ. Tôi dạ, dạ rồi tấp vào quán cà phê, kêu ly nước chanh đá để uống. Ngó lại thì mình đang ở ngã ba Ba Vát, lúc này đã gần bốn giờ chiều. Ngồi đây, nhìn cái nắng chiều nóng bức tôi lại nhớ tới thời còn nhỏ, lúc vẫn còn sống ở nhà cũ. Thời đó có đôi lần nhà tôi lên Sài Gòn để đi đám tiệc. Mỗi bận đó đều phải đón xe từ Cái Mơn ở cái ngã ba này. Do thời xưa không có điện thoại nên cả nhà phải đi xe ôm ra chờ từ sớm để xe tới là đón lên thôi. Tại vì ít nhà có điện thoại nên có khi tài xế phải kêu í ới nhiều lúc ở mỗi nơi có khách. Thành thử ra giờ xe tới cũng bất định nên đi sớm là chắc ăn nhất. Nhưng cũng khổ là có nhiều hôm phải chờ lâu thiệt lâu mới có xe tới. Tôi nhớ có mấy đợt tôi ngủ được cả giấc trên tay má mà xe còn chưa tới. May sao nay xe tới sớm, tôi lên xe và ngã lưng mệt mỏi, xe nay vắng chỉ có năm sáu người. Tôi dù buồn ngủ nhưng không sao ngủ được liền, mấy cái suy nghĩ cứ vẫn vơ trong đầu tôi kèm theo cái cảnh chiều tà trên cửa sổ làm tôi khó mà khép mi. Đầu óc tôi cứ đòi phải nghĩ ngợi, phải suy tư gì đó mới yên tâm ngã lưng. Chính tôi cũng thấy là nếu lúc này không nghĩ suy mà đi ngủ thì phí của trời quá, lúc thức dậy biết đâu mấy cái suy tư kia nó bay biến mất chẳng còn chi, đời chẳng mấy khi lưu lãng được vầy. Xe lên cầu Hàm Luông, phía dưới biết bao cơ man là dừa, lòng sông sáng rực đến chói cả mắt. Tôi nghĩ về Xuân. Những gì xảy đến với nhà Xuân làm tôi nhớ tới cuốn sách Tà Dương của văn hào Nhật Bản, Thái Tể Trị. Trong truyện đó có nàng Hòa Tử vốn là tiểu thơ khuê các nhưng sau khi Nhật Bản chiến bại, mọi thứ dần suy tàn như ánh hoàng hôn. Đời nàng lại chẳng an hòa như tên nàng. Từng người từng người nằm xuống như những tia nắng sót lại lúc hoàng hôn. Mà nhắc đến suy tàn thờ sau thế chiến thì mấy con chử lại kéo tôi nhớ về một phận đời khác. Đó là nàng Cung Tử trong cuốn Hồ của tác giả Xuyên Đoan Khang Thành, cũng là cái phận đời cay đắng nơi người con gái đài trang giữa lúc đế quốc suy tàn. Nhưng ít nhất có lẻ Xuân đã có một cuộc đời tốt hơn những cô gái nơi các trang giấy kia. Bên cô có thể không có ông nhà văn tài hoa cũng chẳng phải là lão nhà giàu nào đó mà chỉ là ông giáo làng. À mà phải đâu là ông giáo, như cách mà anh Nhật vẫn than thở. Nhưng dù sao thì vậy cũng đã là tốt lắm rồi. Xe vẫn lao đi vun vút, nắng chiều càng lúc càng chói chang và đặc quánh lại. Thấy bản thân có vẻ cũng vẽ vời chử nghĩa đủ rồi, quanh đi quẩn lại thì đời cũng có bấy nhiêu thôi. Đeo tai nghe vào, tôi lướt lên lướt xuống màn hình rồi dừng lại ở một bài nhạc Nhật cho “đúng điệu”, Khúc Ca Chiều Tà với tiếng hát của Cận Đằng Chân Ngạn. Nhạc bật lên, mắt tôi chùng xuống giữa chiều tà cao tốc…
Thị thành hoang phế phía sau anh bỏ lại,
Câu giã từ chẳng kịp gửi đến em.
Mộng ước bé thơ mãi chẳng thành.
Giữa cô đơn anh gào thét.
Đôi chân loạng choạng anh bước lê

Trò chuyện

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang